Pháp luật & Đời sống

Hiện trạng pháp lý mới ở Biển Đông

01.09.2016 13:34 3267

Ngày 12/7/2016, Tòa Trọng tài được thành  lập theo phụ lục VII Công ước LHQ về Luật biển 1982 (UNCLOS) đã ra phán quyết cuối cùng trong vụ kiện giữa Philippin (PLP) và Trung Quốc (TQ) – vụ kiện có tên gọi rất phù hợp “vụ kiện trọng tài Biển Đông”.
Hiện trạng pháp lý mới ở Biển Đông

Với phán quyết này, PLP được đông đảo dư luận cho là đã giành thắng lợi hoàn toàn trước TQ liên quan đến những yêu sách biển của TQ ở Biển Đông. Tuy nhiên, việc miêu tả vụ kiện trọng tài này như một cuộc chiến trong đó có bên thắng bên thua làm giảm ý nghĩa của hệ thống giải quyết tranh chấp theo UNCLOS. Một quan điểm như vậy cũng không phản ánh đúng tầm quan trọng của phán quyết đối với các tranh chấp ở Biển Đông, càng không hiểu được sự đóng góp của phán quyết đối với sự hợp tác trong tương lai vì hòa bình, thịnh vượng của khu vực và thế giới.

Phán quyết Trọng tài Biển Đông – câu trả lời có thẩm quyền cho những vấn đề pháp lý quan trọng.

Như Tòa đã nhận xét rất chính xác, “nguồn gốc của các tranh chấp không nằm ở ý định của TQ hay PLP xâm phạm các quyền pháp lý của bên kia, mà nằm ở cách hiểu khác nhau một cách cơ bản về các quyền của mỗi nước theo Công ước tại các vùng biển trên Biển Đông”. Thực vậy, đa số trong 15 đệ trình PLP đưa ra trước Toà có thể gói gọn lại trong hai vấn đề pháp lý chính mà giới luật quốc tế đã trăn trở từ lâu. Những vấn đề này có thể được thể hiện dưới dạng hai câu hỏi sau: (1) “Yêu sách về các quyền lịch sử của TQ ở Biển Đông có phù hợp với UNCLOS không để TQ có thể yêu sách vượt quá các giới hạn về vùng biển mà Trung Quốc được hưởng theo đúng Công ước?”; (2) “Các cấu trúc nhỏ bé ở quần đảo Trường Sa có thể được coi là “các đảo đầy đủ” có khả năng tạo ra vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêng hay không?”. Với các câu hỏi đóng này, các câu trả lời “có” hay “không” của TQ và PLP tất yếu đẩy quan điểm của hai bên đối chọi nhau.

Chính từ bối cảnh trên mà người ta nên nhìn nhận mục đích của hệ thống giải quyết tranh chấp theo UNCLOS. Thực vậy, ý tưởng về một thủ tục giải quyết tranh chấp bắt buộc với quyết định có tính ràng buộc trong UNCLOS, mà Trọng tài theo Phụ lục VII là cơ chế mặc định, bắt nguồn từ nhận thức thực tế rằng các thành viên có thể có quan điểm không thể dung hòa trong cách giải thích và áp dụng Công ước, do đó một phán quyết của bên thứ ba là cần thiết, nếu nói là không thể tránh được. Phụ lục VII của UNCLOS cũng trù định rõ ràng về trường hợp một bên tranh chấp không tham gia vào vụ kiện và định rõ rằng việc không tham gia đó không tạo thành rào cản cho tiến tiến trình trọng tài. Tòa trong vụ kiện trọng tài Biển Đông đã diễn ra đúng như thiết kế và đã hoàn thành đúng những gì mà các nhà đàm phán UNCLOS đã dự kiến – một bằng chứng cho tính hiệu quả của hệ thống giải quyết tranh chấp theo UNCLOs. Quan trọng hơn cả, Toà đã đưa ra những câu trả lời hữu ích cho các câu hỏi pháp lý chủ chốt liên quan đến cơ sở và phạm vi các quyền được hưởng vùng biển ở Biển Đông. Phán quyết của Tòa Trọng tài là của cơ quan có thẩm quyền và hơn thế nữa, bởi nó đạt được bằng sự đồng thuận với lập luận chi tiết, tỉ mỉ bởi 5 chuyên gia nổi tiếng về luật biển.

Tuân thủ và công nhận

Tòa Trọng tài trong phán quyết ngày 12/7/2016 đã chấp nhận lập luận của PLP, tuyên bố “các yêu sách về quyền lịch sử hoặc các quyền chủ quyền, quyền tài phán liên quan đến các khu vực biển ở Biển Đông bao quanh bởi “đường chín đoạn” là đi ngược lại Công ước và không có hiệu lực pháp lý, bởi vì chúng vượt quá giới hạn về địa lý và các quyền trên biển mà TQ được hưởng theo Công ước”, và “không một thực thể nổi nào ở quần đảo Trường Sa có quyền tạo ra vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa”. Như dự đoán, TQ đã ngay lập tức phản đối phán quyết của Tòa theo cách Trung Quốc đã làm từ nhiều tháng trước. Bất chấp những gì TQ đã lập luận, về mặt pháp lý như đã được nêu rõ trong Công ước và được chính Toà nhấn mạnh, phán quyết là chung thẩm và phải được các bên tuân thủ một cách có thiện trí. Cũng cần chỉ ra rằng Toà đã xem xét tất cả các lập luận mà TQ vẫn nhắc đi nhắc lại từ trước đến giờ nhằm bác bỏ tính hợp pháp của tiến trình trọng tài, và Tòa đã bác bỏ chúng một cách thuyết phục.

Tuy vậy, vẫn tồn tại nghi ngại về khả năng tuân thủ phán quyết của TQ. Lý do có hai khía cạnh, đó là: sự phản ứng có vẻ rất dữ dội của TQ đối với vụ kiện trọng tài và việc thiếu một cơ chế đối phó với sự không tuân thủ của TQ. Trong khi lý do thứ nhất trong dài hạn có thể không còn đúng, lý do thứ hai ở chừng mực nào đó không hiểu đúng bản chất vấn đề.

Đến nay TQ đã công khai lập trường bất chấp phán quyết của Tòa Trọng tài. Nếu thái độ như vậy được chuyển thành hành động sau khi phán quyết được công bố thì thực sự sẽ gây ra mối lo ngại không chỉ cho hòa bình và ổn định trong khu vực mà còn đối với tính thượng tôn pháp luật trong quan hệ quốc tế. Mặt khác, chính thái độ của TQ đối với vụ kiện cho thấy rõ lo ngại của Trung Quốc về kết quả vụ kiện cũng như về những tác động của phán quyết đối với những hoạt động trong tương lai của TQ. Nếu không, tại sao TQ không đơn giản phớt lờ tiến trình trọng tài và để nó chìm vào quên lãng? Việc Tòa Trọng tài không đồng ý với TQ về rất nhiều vấn đề chắc chắn làm TQ phiền lòng. Nhìn nhận như vậy, phản ứng giận dữ của TQ là có thể hiểu được. Như ông Jerome A.Cohen, một chuyên gia kỳ cựu về luật pháp và chính trị TQ, đã nhận định: “Chính sách đối ngoại và lập trường pháp lý của TQ không phải là được khắc trên đá”. Cũng có thể bổ sung thêm rằng, Trung Quốc sớm hay muộn sẽ nhận ra lợi ích của vụ kiện trọng tài này và theo đó thay đổi chính sách và lập trường mình vẫn giữ bấy lâu trong tranh chấp Biển Đông. Tất nhiên, Trung Quốc cũng cần thời gian để làm được điều này, giống như trường hợp sửa đổi luật pháp trong nước, nếu muốn có sự so sánh, đây là việc không thể thực hiện một sớm một chiều. Quan điểm lạc quan về những khả năng thay đổi hành vi và hoạt động của TQ ở Biển Đông có thêm cơ sở từ thực tế là TQ đã rất cẩn trọng không thực hiện những hành động mang tính khiêu khích và leo thang mới trên thực địa sau phán quyết.

Dù vậy, có hoài nghi rằng phán quyết chỉ là một thắng lợi không đáng (do thiệt hại còn nhiều hơn) cho PLP vì sự thiếu vắng cơ chế thực thi. Quan điểm hiện thực này từ lâu đã bị các thế hệ luật gia quốc tế bác bỏ. Trong trường hợp cụ thể của vụ kiện Trọng tài Biển Đông, quan điểm này đã hiểu sai tầm quan trọng của UNCLOS – văn kiện được ví như “bản hiến pháp về đại dương” và xác định một cách toàn diện các quyền và nghĩa vụ của các quốc gia tại các vùng biển khác nhau. Từ thực tế là các hành vi trên biển về bản chất tương tác với nhau, việc tất cả các quốc gia cần phải hành động trong khuôn khổ do UNCLOS đặt ra là thiết yếu cho việc duy trì trật tự trên đại dương. Phán quyết cuối cùng của Toà đã làm rõ những giới hạn của các quyền và nghĩa vụ mà TQ và PLP được hưởng theo UNCLOS. Phán quyết do vậy trở thành thước đo khách quan đối với hoạt động tại Biển Đông của TQ và PLP, thậm chí là tất cả các nước. Vì thế, Phán quyết không chỉ đơn giản ràng buộc đối với PLP và TQ mà thực tế còn có hiệu lực phổ quát – nó được hầu như tất cả các nước công nhận. Về vấn đề này, điều đáng chú ý là không quốc gia nào, ngoài Trung Quốc, đặt nghi vấn về tính chung thẩm và tính ràng buộc của Phán quyết. Không một nước nào, dù lớn hay mạnh thế nào, có thể làm thay đổi thực tế này.

Cuối cùng, TQ cũng như mọi quốc gia khác đều có lợi ích từ việc các nghĩa vụ quốc tế được tôn trọng. Việc TQ có tuân thủ phán quyết hay không sẽ là liều thuốc thử đối với cam kết công khai của TQ về tôn trọng luật pháp quốc tế, bao gồm UNCLOS, và duy trì hòa bình, ổn định trong quan hệ quốc tế. Tuân thủ phán quyết sẽ giúp đảm bảo một trật tụ pháp lý ổn định và có thể dự đoán được ở Biển Đông, nơi có các nguồn tài nguyên quan trọng đối với sự phát triển của các nước ven biển và tạo thuận lợi cho tuyến đường hàng hải vận chuyển 50% hàng hóa trên thế giới.

Triển vọng hợp tác

Với một chút khiêm tốn, Tòa đã tuyên bố rằng “mục đích của tiến trình giải quyết tranh chấp là làm rõ các quyền và nghĩa vụ tương ứng của các bên, từ đó tạo thuận lợi cho mối quan hệ trong tương lai của họ”. Nhưng như đã thấy, Phán quyết đã vượt ra ngoài phạm vi các tranh chấp song phương giữa TQ và PLP và có tác động quan trọng đối với triển vọng của khu vực trong tương lai.

Thực vậy, thông qua việc đưa ra câu trả lời rõ ràng đối với một loạt câu hỏi hóc búa, Toà đã gỡ rối đáng kể tranh chấp ở Biển Đông. Một hiện trạng pháp lý mới ở Biển Đông đã xuất hiện với sự rõ ràng hơn về phạm vi vùng biển tối đa mà các quốc gia ven biển được hưởng. Sau phán quyết, các vùng biển ở Trường Sa – vùng biển tranh chấp do sự tranh chấp về chủ quyền chưa được giải quyết – chỉ giới hạn trong vùng lãnh hải của các cấu trúc luôn nổi (đảo đá). Tại các khu vực tương ứng của Biển Đông, các nước ven biển giờ đây có thể tự tin hưởng vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa theo đúng UNCLOS. Bên ngoài giới hạn quyền tài phán của quốc gia ven biển sẽ là vùng biển quốc tế - nơi các nước được hưởng một số quyền tự do nhất định theo quy định của Công ước. Vấn đề đáy biển tại khu vực giữa Biển Đông có trở thành một phần của Vùng theo chế độ di sản chung của nhân loại sẽ phụ thuộc vào các đệ trình tương lai của các nước ven biển về thềm lục địa mở rộng của họ. 

Kết quả cuối cùng của vụ kiện là rất quan trọng cho việc xác định bản chất và phạm vi của các hoạt động được phép ở Biển Đông mà các nước có thể thực hiện theo UNCLOS đồng thời định hình hoạt động hợp tác trong tương lai tại khu vực. Trong tương lai gần, phán quyết sẽ soi sáng cho việc thực thi DOC ở Biển Đông và đàm phán về COC giữa ASEAN và TQ. Về lâu dài, với phạm vi các quyền và lợi ích biển được xác định rõ ràng hơn ở Biển Đông, các nước ven biển cần bắt đầu các hoạt động hợp tác, có thể có sự tham gia của các nước ngoài khu vực và các tổ chức quốc tế, để giải quyết các vấn đề có liên hệ chặt chẽ với nhau trong vùng biển nửa kín này theo quy định của UNCLOS. 

Với các phân tích như vậy, không ai có thể chối bỏ ảnh hưởng rất có giá trị mà phán quyết của Tòa mang lại đối với sự phát triển trong tương lai ở Biển Đông. Giờ đây, việc nhận thức thực tế này cũng như thực thi phán quyết một cách thiện chí hoàn toàn là phụ thuộc vào các quốc gia. /.

TS. Nguyễn Bá Sơn

              

 

Nguyễn Bá Sơn, Tiến sĩ, là luật sư tại Tp HCM, hoạt động trong lĩnh vực công pháp quốc tế và luật thương mại quốc tế. Tác giả cám ơn các bạn bè, động nghiệp đã hỗ trợ trong quá trình thực hiện bài viết. Quan điểm trong bài là của tác giả và không phản ánh quan điểm của bất cứ tổ chức nào mà tác giả từng tham gia.

Về trang chủ


Tin liên quan

Những bản tin khác