Thông tin cựu Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến hoàn thành nghĩa vụ nộp 108 tỷ đồng khắc phục hậu quả ngay trước phiên tòa phúc thẩm để xin hưởng án treo lại một lần nữa châm ngòi cho dư luận.
Đây được cho là kịch bản này không mới, bởi công chúng từng chứng kiến cựu Bộ trưởng Nguyễn Bắc Son nộp đủ 66 tỷ đồng, hay cựu Chủ tịch Hà Nội Nguyễn Đức Chung nộp 25 tỷ đồng để khắc phục hậu quả.
Đáng chú ý, trong khi, các doanh nhân như tỷ phú Trịnh Văn Quyết cũng dễ dàng thu xếp những khoản tiền khổng lồ hàng trăm tỷ cho nhà nước vào phút chót cũng hết sức dễ dàng nhưng ít ai để ý.
Thì trái lại, việc hàng chục, hàng trăm tỷ đồng của các quan chức lãnh đạo cấp cao xuất hiện đúng thời điểm quan trọng nhất để trở thành căn cứ giảm nhẹ tội thì trở thành tâm điểm của công luận và đặt ra câu hỏi lớn: Tiền ở đâu ra?
Việc pháp luật khuyến khích nộp tiền khắc phục hậu quả là một chính sách hoàn toàn đúng đắn. Khi đó, thiệt hại được bồi thường Nhà nước thu hồi được tài sản thất thoát, và thái độ ăn ăn hối cải của bị cáo được ghi nhận.
Đáng chú ý, theo Nghị quyết 04/2025 của Hội đồng thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao cũng cho phép người phạm tội sử dụng tài sản do người thân, bạn bè nộp thay để làm căn cứ giảm nhẹ.
Theo đó, về mặt nguyên tắc, nếu một người thân hay quen biết bán tài sản hợp pháp của mình để giải cứu cho bị cáo thì hoàn toàn phù hợp và không có gì bất thường.
Tuy nhiên, đối với những người từng nắm giữ chức vụ, quyền hạn lớn, công chúng có quyền đòi hỏi sự khắt khe hơn. Với câu hỏi: khi một khoản tiền đặc biệt lớn bất ngờ xuất hiện, liệu cơ quan tố tụng có nghĩa vụ phải xem xét nguồn gốc hợp pháp và mối quan hệ tài sản giữa người nộp với bị cáo hay không?
Theo giới chuyên gia pháp lý, sự lo ngại của công luận không phải là không có căn cứ. Nếu khoản tiền khắc phục khổng lồ ấy lại chính là tài sản do bị cáo “phạm tội mà có” nhưng đã được che giấu kỹ lưỡng, hoặc được nhờ người khác đứng tên hộ.
Thì việc chấp nhận số tiền đó để giảm nhẹ hình phạt sẽ vô tình biến chính sách khoan hồng thành công cụ “hợp pháp hóa” dòng tiền bẩn.
Chưa dừng lại ở đó, thậm chí có các ý kiến phản biện gay gắt cho rằng, Nhà nước chấp nhận việc khắc phục hậu quả bằng chính tiền tham nhũng chẳng khác gì nhà nước công khai ăn hối lộ của quan tham từ tiền ăn cắp của dân để tha tội!?
Nguy hiểm hơn, nó có thể tạo ra một tiền lệ đáng ngại, chỉ cần tích trữ đủ tiền ăn cắp trong thời gian tại vị, quan chức tham nhũng hoàn toàn có thể dùng chính số tiền đó để “đổi lấy” sự tự do sau khi bị phát giác.
Tuy nhiên, việc bắt buộc xác minh nguồn gốc tiền bạc khắc phục hâu qua một cách máy móc được cho là không khả thi.
Nếu quy định quá cứng nhắc, chính sách khuyến khích tự nguyện khắc phục hậu quả của Nhà nước sẽ bị triệt tiêu, gây khó khăn cho việc thu hồi tài sản cho ngân sách.
Vẫn theo giới chuyên gia, vấn đề cốt lõi không phải là cấm hay gây khó dễ, mà là cách thiết kế cơ chế kiểm soát của Nhà nước cần đảm bảo chặt chẽ và minh bạch có thể dễ dàng kiểm tra được.
Công luận cho rằng, đã đến lúc quy trình tố tụng cần bổ sung những định chế bắt buộc đối với các khoản tiền khắc phục đặc biệt lớn. Cơ quan thi hành án và Tòa án không thể chỉ đơn thuần đóng vai trò người “thu và đếm tiền”.
Hồ sơ vụ án bắt buộc phải làm rõ tối thiểu các thông tin: ai là người nộp; mối quan hệ tài sản ra sao; nộp thay cho ai, và có thực sự thể hiện ý chí của bị cáo hay không?
Chỉ khi nào ranh giới giữa chính sách nhân văn và cơ chế kiểm soát tài sản được phân định rõ ràng, thì sự nghiêm minh của hệ thống tư pháp mới không bị lung lay trước những khoản tiền trăm tỷ “bất thường” trước giờ tuyên án.
Trà My – Thoibao.de









