Khi giấy phép con thành “lệnh bài” núp bóng nhà nước để cưỡng đoạt Doanh nghiệp?

Trong cấu trúc vận hành của một nền kinh tế hiện đại, giấy phép vốn được thiết kế như một công cụ quản trị nhà nước nhằm đảm bảo các tiêu chuẩn về an toàn, môi trường và trật tự xã hội. 

Thế nhưng, những trong các đại án kinh tế liên tiếp bị phanh phui trong giai đoạn gần đây đã phơi bày một thực trạng đen tối. Đó là, tại nhiều bộ ngành then chốt, giấy phép đã bị biến tướng thành một loại “lệnh bài” để các quan chức cưỡng đoạt tài sản của doanh nghiệp. 

Những “mắt xích” mục nát trong bộ máy công quyền không còn đóng vai trò hỗ trợ phát triển, mà trở thành những “trạm thu phí” bất hợp pháp, với những thủ đoạn kiếm chác tinh vi núp bóng nhà nước.

Tiêu điểm của cuộc khủng hoảng niềm tin này là trường hợp của cựu Thứ trưởng Bộ Lao động – Thương binh & Xã hội ông Nguyễn Bá Hoan, 

Kết luận Điều tra bổ sung của Bộ Công an đầu tháng 4/2026 đã cho thấy một kịch bản đáng sợ: khi lãnh đạo bộ này đã tự ý chỉ đạo cấp dưới đẻ ra các văn bản hành chính không có trong luật định. 

Những rào cản vô hình này biến việc cấp phép đưa lao động đi nước ngoài, vốn là một hoạt động mang ý nghĩa dân sinh và kinh tế bỗng trở thành thành một cuộc ngã giá. 

Theo đó, muốn để các hồ sơ “Xuất khẩu lao động” được khơi thông nhanh chóng, các Doanh nghiệp buộc phải chi phí “bôi trơn” lên tới hàng chục tỷ đồng. 

Hành vi này không đơn thuần là việc nhận hối lộ trái luật pháp, mà là sự vi phạm nghiêm trọng chức trách quản lý nhà nước, biến quyền lực nhà nước giao phó thành món hàng kinh doanh cá nhân.

Sự “giống nhau kỳ lạ” về thủ đoạn giữa các bộ ngành cho thấy đây không phải là những vi phạm đơn lẻ, mà là một căn bệnh mang tính hệ thống của thể chế chính trị. 

Như tại Cục An toàn thực phẩm thuộc Bộ Y tế, cựu Cục trưởng Nguyễn Thanh Phong cùng các đồng sự cũng đã thiết lập một “quy ước” ngã giá cho mỗi bộ Hồ sơ Chứng nhận chất lượng của sản phẩm. 

Với tổng số tiền hối lộ lên đến hơn 107 tỷ đồng, vụ án này là minh chứng điển hình cho chiến thuật “bào mòn”. Đó là, các Hồ sơ bị treo vô thời hạn chỉ vì những lỗi chính tả lặt vặt hay yêu cầu sửa chữa vô lý không cần thiết. 

Khi ấy, các Doanh nghiệp đứng trước hai lựa chọn nghiệt ngã: hoặc chi tiền để được xử lý nhanh, hoặc mất cơ hội kinh doanh trong nỗi tuyệt vọng. 

Khi các lỗi nhỏ không đáng kể bị “vũ khí hóa” để gây khó dễ, các giấy phép không còn là chứng chỉ đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng, mà trở thành công cụ tống tiền tinh vi nhất.

Nghiêm trọng hơn, tại Cục Môi trường thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, việc thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường còn bị biến tướng thành một hình thức ép buộc doanh nghiệp sử dụng các đơn vị tư vấn sân sau được chỉ định sẵn. 

Những hồ sơ vi phạm xả thải rõ ràng lại được thông qua nhanh chóng nhờ tiền bạc, trong khi các dự án chân chính bị hành hạ bởi những quy định khắt khe được áp dụng một cách tùy tiện. 

Điều này tạo ra một môi trường kinh doanh độc hại, nơi những doanh nghiệp làm ăn tử tế dần bị đào thải bởi những thực thể “thân hữu” chuyên chạy chọt.

Thực chất, đây là một hình thức cưỡng đoạt dựa trên sự độc quyền về quyền lực hành chính. Việc lạm dụng tư duy “xin cho” trong cấp phép đã tạo ra những kẽ hở chết người cho tham nhũng nảy mầm.

Khi giấy phép bị hóa thành các “lệnh bài” cưỡng đoạt, niềm tin của các nhà đầu tư sẽ tan vỡ. Một môi trường kinh doanh mà ở đó sự thành bại phụ thuộc vào độ dày của phong bì hơn là chất lượng sản phẩm sẽ chỉ dẫn đến sự kiệt quệ về sức sáng tạo và tính cạnh tranh. 

Đã đến lúc, Việt Nam cần một cơ chế giám sát thực chất, minh bạch và loại bỏ việc độc quyền trong cấp phép. 

Hãy trả lại cho giấy phép đúng ý nghĩa là công cụ bảo vệ lợi ích công cộng, chứ không phải trở thành vũ khí để vòi tiền doanh nghiệp.

Trà My – Thoibao.de